Bối cảnh-một định hướng nghiên cứu văn học nhiều triển vọng

BT12

Thuật ngữ “bối cảnh” bắt nguồn từ tiếng La-tinh “textere”, vốn có nghĩa là “hành động dệt”. Trong một nghĩa rộng hơn, “bối cảnh” là tất cả những gì đi cùng với văn bản. Một văn bản, giống như một mảnh vải, được “dệt” thành từ tình huống của một sự diễn xướng được bố trí sẵn (mà trong đó gồm): người nghe, người trình diễn, những nền tảng kiến thức và hiểu biết của một nhóm người có tính xã hội, và nền tảng văn hoá của người kể/hát lẫn người nghe. Cụ thể là từ nhừng năm 1960, khi mà các nhà folklore nhấn mạnh yếu tố trình diễn nhằm đáp ứng việc phát triển trong lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội thì bối cảnh đã được sử dụng như là một khái niệm có tính phân tích, làm trọng tâm để khám phá những điều kiện mà các tư liệu folklore đã được sáng tạo, lưu truyền và tiếp nhận. Bởi vì được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu folklore nên cách nghiên cứu theo bối cảnh cố gắng làm cho các tư liệu folklore đạt được tính dễ hiểu, thấu đáo và toàn diện hơn là mô tả hay chỉ giải thích.

Việc hiểu khái niệm bối cảnh là nhờ vào sự phát triển của ngành Nhân học Văn hoá, đặc biệt là sự đóng góp của Bronislaw Malinowski, ông đã tìm ra cách nghiên cứu folklore thông qua công trình của William Bascom. Các khái niệm “bối cảnh tình huống” và “bối cảnh văn hoá” của Malinowski, vốn được coi là yếu tố tối cần thiết để hiểu một văn bản, đã thu hút sự chú ý (của mọi người) vào cả những tình huống cụ thể (mà một văn bản sẽ được sáng tác hay diễn xướng) lẫn những hệ thống văn hoá lớn hơn (mà văn bản là một phần trong đó). Những quan niệm về bối cảnh và tầm quan trong của nó trong việc hiểu văn bản đòi hỏi cần có một cấp độ mới của việc phân tích và chuyển hướng chú ý của các nhà nghiên cứu folklore từ chức năng sang ý nghĩa, từ giải thích sang thông diễn. Alan Dundes yêu cầu làm sáng tỏ bản chất của bối cảnh bằng cách đặt bối cảnh trong mối quan hệ với các khái niệm “văn bản” (một phiên bản đơn lẻ của một tiết mục folklore) và “kết cấu” (những yếu tố thuộc về cấu trúc ngôn ngữ của văn bản). Theo Dundes, bối cảnh của một tiết mục folklore là một hoàn cảnh xã hội đặc biệt mà trong đó, các tiết mục cụ thể được sử dụng thực tế [Dundes, tr.23]. Dundes đã khẳng định rằng văn bản và những yếu tố liên quan phải được hiểu không chỉ là có mối quan hệ với bối cảnh mà còn bị bối cảnh gây ảnh hưởng. Do vậy, trong lĩnh vực sưu tầm folklore, tài liệu được tìm hiểu không chỉ là văn bản mà còn là bối cảnh bởi lẽ bối cảnh sẽ cung cấp cho chúng ta câu trả lời cho câu hỏi: điều gì quan trọng trong văn bản và tại sao chúng được sử dụng trong hoàn cảnh xã hội đó. Việc phân tích [các vấn đề] ai kể, kể cái gì, kể với ai, kể khi nào và kể trong hoàn cảnh nào cho phép chúng ta hiểu được tại sao văn bản có một cấu trúc hình thức như vậy. Ngoài ra, theo Dundes, việc bối cảnh định hướng cho văn bản là một bằng chứng cho thấy hiểu biết về bối cảnh có thể giải thích sự biến đổi bên trong của văn bản và kết cấu [Dundes, tr. 27]. hiểu rõ bối cảnh hơn sẽ cho phép người nghiên cứu hiểu vì sao có sự khác nhau trong số nhiều câu chuyện cùng loại.

Bối cảnh có liên quan đến hành động kể chuyện một cách rất hữu cơ, rõ ràng. Áp dụng mô hình ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp trong một tình huống kể chuyện, từ năm 1969, Robert A. Georges đã nhấn mạnh rằng: thông điệp của mỗi tình huống kể chuyện được định hướng do sự tương tác/ tiếp xúc giữa người kể và người nghe trong sự tham chiếu với mối quan hệ tương tác có tính xã hội giữa họ, mà hoàn cảnh đó vốn là độc đáo duy nhất cho mỗi dịp kể chuyện. Tuy nhiên, vai trò của bối cảnh trong kể chuyện đã được biết đến rất rõ từ trước thập niên 60 của thế kỉ XX. Đại diện cho quan niệm nghiên cứu bối cảnh ở Đông Âu, Mark Azadovskii đã nhấn mạnh vai trò của người kể trong quá trình kể chuyện vào khoảng thời gian sớm hơn năm 1926 trong bài viết Einc Sibirische Marchenerzahlerin, qua lời giới thiệu cho lần hiệu đính tuyển tập truyện cổ tích sưu tầm ở vùng cao Lenar ở Irkutsk vào năm 1925. Được dịch sang tiếng Anh vào năm 1974 với nhan đề A Siberian Tale Teller, công trình có tính tiên phong của Azadovskii đã tìm thấy sự cộng hưởng trong số các nhà nghiên cứu folklore Hoa Kỳ vốn chỉ ở thập niên 1980. Azadovskii trình bày một hình ảnh về người kể chuyện có tính cách mạng, đặc biệt là Natalia Vinoukurova, một người mù chữ đã cung cấp cho Azadovskii hơn 50 truyện kể. Trong số các nhân vật xuất hiện trong truyện kể của Vinoukurova, có những người lang thang cơ nhỡ, mà một số trong đó là tù nhân ở vùng Upper Lena. Bằng cách phân tích các mô-típ cụ thể trong các truyện của Vinokurova, Azadovskiikhám phá ra rằng, một số môtíp hình thành từ bối cảnh lịch sử cụ thể và sự diễn xướng của người kể chuyện phụ thuộc rất lớn vào tình trạng tâm lí của người kể.

Linda Dégh là một nhà khoa học khác đại diện cho trường phái Đông Âu trong việc nghiên cứu bối cảnh. Trong quyển, Folktales and Society, xuất bản lần đầu ở Đức năm 1962 và được dịch sang tiếng Anh năm 1969, Dégh tập trung vào mối quan hệ giữa truyện kể, người kể và xã hội. Công trình nghiên cứu của bà đã cho thấy sự ảnh hưởng của cá tính và địa vị xã hội của người kể chuyện vào văn bản của truyện kể và giải thích rõ khái niệm “tính ổn định” và “tính liên tục” trong truyền thống. Tính liên tục, một khi nảy sinh, phụ thuộc vào người kể lẫn người nghe đóng vai trò then chốt trong bối cảnh xã hội. Dù người kể nói câu chuyện yêu thích của họ nhưng người nghe không cảm thấy hứng thú với câu chuyện đó thì nó sẽ không hề lưu dấu vết trong kho tàng truyện truyền thống. Bằng cách truy tìm những truyện kể khác mà nó có khả năng khơi gợi sự chú ý của tác giả, người kể duy trì vốn truyện kể trong vốn truyện của họ.

Những nhà nghiên cứu loại tự sự dân gian trước đây đã ngấm ngầm nhận ra rằng truyện dân gian có thể được định hướng bởi cái mà bây giờ chúng ta gọi là “bối cảnh” khi mà các học giả ấy đã xem truyện kể như là sự biểu hiện/ hiện thân của xã hội, văn hoá, và đặc tính dân tộc. Dựa vào các công trình của tác giả người Đức Joham Gottfried Herder ở thế kỉ XVIII và của anh em nhà Grimmm vào thế kỉ XIX, phong cách của truyện kể dân gian có nguồn gốc từ những bối cảnh xã hội và những bối cảnh văn hoá mà tác phẩm được sáng tác. Herder chứng minh rằng văn học dân gian mang ơn những người nông dân vốn gần gũi với tự nhiên trong việc hình thành phong cách của nó. Ngày nay – với sự trỗi dậy của các phương pháp nhân học văn hoá, các phương pháp tiếp cận dân tộc học và các phương pháp lịch sử, xã hội, nghiên cứu văn hoá và phong trào văn hoá xã hội như Nữ quyền – các nhà nghiên cứu đã chọn lựa được một bối cảnh rộng hơn của xã hội, văn hoá và các yếu tố tình huống đưa vào nghiên cứu khi xem xét. Điều đó còn bao gồm cả tuổi tác, giới tính, dân tộc, giai cấp, tình trạng kinh tế, xã hội của người kể lẫn người nghe. Tất cả những yếu tố đó đóng vai trò trong việc khám phá hình thức, ý nghĩa và chức năng của tư liệu truyện kể.

(Huỳnh Vũ Lam dịch từ “Donald Haase (2008), The Greenwood Encyclopedia of Folktales and Fairy Tales, Greenwood Press, USA)

Các yếu tố cấu thành một bài học trực tuyến

Học Thế Nào

Catlin Tucker | Tạ Ngọc Thuý dịch

Mặc dù việc dạy học trực tuyến có thể đem lại cảm giác không giống với dạy học trực tiếp, nhưng hai cách dạy này vẫn có nhiều điểm tương đồng về mặt xây dựng một bài học. Giáo viên có thể chuyển các hoạt động hoặc các nhiệm vụ học tập thông thường sang môi trường trực tuyến bằng các công cụ hỗ trợ. Tuy nhiên, trước đó giáo viên cần có những hướng dẫn ban đầu cũng như hỗ trợ học sinh trong suốt quá trình học trực tuyến.

Screenshot 2020-05-16 14.26.52

Hình 1. Các yếu tố cấu thành một bài học trực tuyến

Trên thực tế, trước khi dạy học trực tuyến, giáo viên có thể mường tượng ra những gì mình định làm, muốn làm thông qua lăng kính của các cấu trúc của một bài học trực tuyến.

  • Học sinh của…

View original post 1 134 từ nữa

DẠY VĂN HỌC CHO THIẾU NIÊN Giáo dục Học sinh với tư cách Công dân Thế giới

Phần I: Cơ sở cho việc giảng dạy văn học thiếu niên

Chương 1. Giới thiệu về đời sống, tác phẩm và dạy học cho tuổi thiếu niên

Cuộc sống của thiếu niên thường được xem là thời kỳ hỗn loạn của quá trình phát triển về thể chất, nhận thức, xã hội và tâm lý (Latcoat & Drury, 2009). Chẳng hạn, ngay từ năm 1904, G. Stanley Hall, thường được gọi là cha đẻ của tuổi vị thành niên, đã nhận xét: Tuổi vị thành niên (thiếu niên) là thời kỳ bão tố và căng thẳng. Nhưng quan điểm đương đại hơn cho thấy thiếu niên phức tạp hơn nhiều, ít đồng nhất hơn và thực sự rất đa dạng (Lesko, 2001). Thật vậy, theo các nhân khẩu học gần đây, dân số vị thành niên đang gia tăng chiếm phần lớn là nhập cư và nhóm tăng trưởng nhanh nhất là người gốc Tây Ban Nha (Bean & Harper, 2011; Campano & Ghiso, 2011).

Trong phần này và các chương tiếp theo, chúng ta khám phá bản chất năng động của văn học thiếu niên, xem xét việc sử dụng văn học thiếu niên hiện nay trong các lớp học tiếng Anh và các môn học khác diễn ra như thế nào. Chúng tôi định nghĩa văn học thiếu niên là tác phẩm văn học (thường là hư cấu) dành cho độc giả trong độ tuổi từ 12 đến 18.

Hộp văn bản: Mục tiêu học tập 
§	Hiểu tầm quan trọng của đọc hiểu ở tuổi thiếu niên qua các tài liệu dành cho tuổi này với cảm xúc và thông tin về nhiều vấn đề. 
§	Xem xét và thảo luận về bản chất thay đổi của văn học vị thành niên dưới sự tác động của công nghệ truyền thông trực tuyến. 
§	Phát triển hiểu biết ban đầu về mối quan hệ giữa tính dân tộc và văn hóa đa dạng của học sinh với văn học dành cho thiếu niên, thu hút các sở thích của học sinh. 
§	Biết cách sử dụng các tài nguyên để lập kế hoạch bài học trực tuyến nhằm tạo ra các bài học văn học dành cho thiếu niên. Bắt đầu tạo một cơ sở dữ liệu của văn học vị thành niên.

Mỗi chương trong cuốn sách này cung cấp các mục tiêu học tập cụ thể và các câu hỏi thảo luận đặt ở cuối mỗi chương để đào sâu kiến thức về văn học thiếu niên và thực hành giảng dạy. Chúng tôi bắt đầu chương này bằng cách đi vào một lớp học nghệ thuật Ngôn ngữ/ tiếng Anh bậc trung học ở thành thị, nơi tiêu biểu cho văn học thiếu niên. Đây là một lớp học thực sự và một giáo viên phải đối mặt với những thách thức khó khăn thường xảy ra. Phần còn lại của chương cung cấp một lý do cho cuốn sách và xem xét bản chất thay đổi của cuộc sống vị thành niên, văn bản và giảng dạy văn học thiếu niên.

Gần đây, Hộp văn bản: Câu chuyện: Lớp tiếng Anh trung học của cô giáo Ashley
Như một cách để bắt đầu suy nghĩ về văn học dành cho thiếu niên, chúng tôi theo Ashley Norton vào lớp học tiếng Anh/ Ngôn ngữ bậc trung học do cô dạy. Ashley là một giáo viên trẻ, thông minh, tận tụy và có tuổi nghề tương đối mới. Cô có bằng thạc sĩ và giảng dạy theo chế độ toàn thời gian. Trường của cô nằm trong khu đô thị đông đúc ở phía tây nam Hoa Kỳ. Phần đông học sinh nghèo đói, và đa số học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. Thật vậy, 65% HS trong lớp nói tiếng mẹ đẻ là Tây Ban Nha. Nhiều HS phải vật lộn với môn đọc viết bằng cả tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ. Tất cả học sinh trong lớp của Ashley đều học dưới chuẩn, dù mức độ không hoàn toàn giống nhau. Các cấp độ đọc của học sinh (bằng tiếng Anh) nằm trong khoảng từ lớp Hai đến lớp Sáu.
Bản thân ngôi trường này là một ốc đảo hấp dẫn với một biển sòng bạc, quán bar nhỏ và trung tâm thương mại cũ xung quanh. Để phát huy sự sáng tạo và khuyến khích dạy học, hiệu trưởng đã tận tâm xây dựng nhà trường, động viên GV hướng tới chuyên nghiệp, tiến bộ và đặc biệt là ủng hộ GV sử dụng công nghệ đa phương tiện trong dạy học. Trường có một triết lý và cách tổ chức theo nguyên tắc quản lí chung của bậc trung học. Điều này cho phép Ashley làm việc trong một nhóm nòng cốt các giáo viên khoa học và khoa học xã hội, cùng nhau lập kế hoạch cho chuyên đề: về công bằng xã hội.
HS trong lớp Ngữ văn Anh của Ashley đã đọc và thảo luận xong cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu niên của Walter Dean Myers (1999).

Cuốn tiểu thuyết đưa người đọc vào một nhà tù cấp quận qua nhân vật chính, Steve Harmon, một người Mỹ gốc Phi 16 tuổi, bị buộc tội đồng lõa trong một vụ cướp của giết người ở cửa hàng tiện lợi. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, việc Steve có tội hay vô tội vẫn là một câu hỏi. Cấu trúc tiểu thuyết có đặc trưng thời gian phi tuyến tính, thay đổi cảnh, giọng nói và phông chữ và văn bản đa thể loại. Ví dụ: tác giả gom các nhật ký, biên bản của tòa án và hình ảnh để dựng cốt truyện. Giống như nhiều cuốn sách dành cho thiếu niên đương đại, cuốn tiểu thuyết đã lôi cuốn học sinh của Ashley. Với sự giúp đỡ của Ashley, HS của cô đã thành công khi đọc và tìm hiểu cuốn tiểu thuyết. Trong các cuộc thảo luận trên lớp, các em HS đề cập đến những khuôn mẫu của thiếu niên phạm pháp, đặc biệt là thiếu niên thiểu số, trong môi trường bên ngoài và văn hóa học đường.

Giống như một hoạt động nâng cao, HS của Ashley đã tạo ra tác phẩm Tiểu sử trên cơ thể – body biliography (Bean, Readence, & Baldwin, 2012; Smagorinsky & O’Donnell-Allen, 1998) để mô tả cuộc đấu tranh của Steve. Tiểu sử trên cơ thể là cách phác thảo cơ thể người có kích thước thật trên giấy bán thịt, trên đó các hình ảnh giống như cắt dán từ tạp chí, Internet và tương tự, cùng với các trích dẫn chính được nối vào để thể hiện các chủ đề và các yếu tố nhân vật trong tiểu thuyết. Khi hoàn thành, HS của Ashley đã thực hiện một cuộc triển lãm bộ sưu tập trong khi  các bạn khác trình bày (bằng tiếng Anh thỉnh thoảng chuyển mã sang tiếng Tây Ban Nha) tiểu sử trên cơ thể và giải thích các chi tiết cụ thể.

Tiểu sử cơ thể là một trong nhiều cách để thu hút học sinh trong việc đọc và thảo luận về văn học thiếu niên. Khi văn bản này mở rộng hơn, chúng tôi giới thiệu một loạt các chiến lược để độc giả xem xét. Hiện tại, chúng tôi chỉ đơn giản muốn giới thiệu khả năng sử dụng văn học dành cho thiếu niên hiện nay trong các lớp học Nghệ thuật Anh, như lớp của Ashley, và bắt đầu suy nghĩ sâu hơn về các quan niệm cá nhân và tập thể về tác phẩm văn học, lứa tuổi thiếu niên và công tác giảng dạy. Để bắt đầu suy nghĩ như vậy, Hoạt động 1.1 yêu cầu bạn thảo luận các câu hỏi sau đây và tất nhiên là có thể thêm câu hỏi của riêng bạn.

Hộp văn bản: Suy nghĩ và thảo luận chuyên môn 
Thảo luận các câu hỏi sau đây theo cá nhân và sau đó trong các nhóm nhỏ. Ghi lại câu trả lời của bạn. 
§	1. Văn bản: Sự khác biệt giữa “văn bản” và “sách” là gì? Những văn bản nào đã được chứng minh trong trải nghiệm của học sinh về tác phẩm Monster trong lớp của Ashley? Văn bản loại nào được coi là “hợp pháp” trong lớp học ngày nay? Những văn bản nào được coi là văn học trong nhà trường? Những văn bản nào được sử dụng để đánh giá khả năng đọc của học sinh? 
§	2. Thanh thiếu niên: Ai là độc giả vị thành niên? Hình ảnh thông thường của độc giả vị thành niên trong trường học là gì? Từ những gì chúng ta biết, làm thế nào để học sinh của Ashley xác nhận hoặc tin vào hình ảnh này? 
§	3. Dạy học: Cần phải làm gì để giúp cải thiện khả năng đọc viết của thanh thiếu niên? Văn học thiếu niên đương đại là gì, và nó nên được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường không? Điều gì là lợi ích và giới hạn của tài liệu này đối với sinh viên của Ashley? Làm thế nào để dạy văn học tốt nhất? 
Hãy thảo luận những câu hỏi này khi bạn tiếp tục đọc chương này và các chương sắp tới.

Văn học thiếu niên và bản chất thay đổi của văn bản

Là giáo viên mới hoặc lâu năm cũng vậy, độc giả chắc chắn sẽ nhận ra rằng bản chất của vấn đề dạy học cho thiếu niên, tác phẩm và cách thức giảng dạy đang thay đổi nhanh chóng. Những điểm mới của thời buổi này như công nghệ truyền thông mới nổi và những thay đổi trong thực tiễn văn bản và ngôn ngữ – cái thường được gọi là văn học mới: (Bean, 2010; Kist, 2010; Knobel & Lankshear, 2008) – đang đòi hỏi phải tiếp cận theo cách mới đối với việc giảng dạy văn học. Nhiều thiếu niên cảm thấy thoải mái khi sử dụng công nghệ mới và tiếp nhận nhiều dạng văn bản như tiểu thuyết in, sách phi hư cấu và tạp chí, nhưng ngày càng nhiều “văn bản” dựa trên phương tiện máy tính, ví dụ tiểu thuyết đồ họa, tiểu thuyết siêu văn bản, tập tin âm thanh, blog, các trang truyền thông xã hội và trang web, cùng với điện thoại di động, nhắn tin văn bản và các hình thức và phương thức văn bản khác chưa được tưởng tượng (Bean, 2010).

Ngoài những văn bản trong trường học thì sự đa dạng của văn bản học sinh gặp phải ở bên ngoài trường học đòi hỏi phải thay đổi chương trình dạy văn học trong trường. Trên thực tế, các tài liệu về nguyên tắc và tiêu chuẩn xây dựng chương trình đang hỗ trợ đọc hiểu nhiều dạng văn bản. Ví dụ, Elizabeth Sturtevant et al. (2006) đã phát triển một số nghiên cứu điển hình về giảng dạy nâng cao trong các lớp học trung học cơ sở và trung học dựa trên các nguyên tắc do Ủy ban Đọc hiểu vị thành niên của Hiệp hội Đọc sách Quốc tế (Moore, Bean, Birdyshaw, & Rycik, 1999) đề xuất. Chẳng hạn, Nguyên tắc thứ 3 lưu ý rằng: “Thiếu niên cần cơ hội để đọc các văn bản in và ở hình thức khác cho nhiều mục đích khác nhau” (Sturtevant et al., 2006, p. 42). Trung tâm của Hiệp hội các thống đốc quốc gia về thực hành tốt nhất cho việc đọc sách bao gồm phân tích các nhân vật trong các tài liệu hư cấu và phi hư cấu (xem www.coreststandards.org ).

Nhiều tổ chức chuyên nghiệp khuyến khích dùng văn bản để thúc đẩy HS xem xét các vấn đề xã hội. Ví dụ như Hội đồng Giáo viên Tiếng Anh Quốc gia (NCTE), Hội đồng Khoa học Xã hội Quốc gia, Hội đồng Giáo viên Toán học Quốc gia, Hiệp hội Giáo viên Khoa học Quốc gia và Tiêu chuẩn Quốc gia về Nghệ thuật Ngôn ngữ Tiếng Anh đã khuyến nghị việc sử dụng nhiều văn bản và hình thức văn bản bao gồm tiểu thuyết, phim và video (Sturtevant et al., 2006). Chắc chắn những khuyến nghị này phù hợp với quan điểm của độc giả vị thành niên bằng tâm trạng thích thú nếu không muốn nói là dính vào các phương thức giao tiếp mới, trong các ý tưởng từ các nguồn bên ngoài sách giáo khoa truyền thống và các nguồn văn học được kiểm duyệt.

Mặc dù chủ yếu vẫn dựa trên in ấn nhưng văn học dành cho thiếu niên ngày càng được các công nghệ mới nhất làm nền tảng. Rõ ràng là, Internet đã giúp cho thiếu niên đọc các tài liệu trên các trang web, phòng chat, blog và trong một số trường hợp các trang web đó cũng tự cung cấp văn bản tác phẩm. Ngoài ra, văn học có thể cung cấp cho độc giả vị thành niên một dạng dễ tiếp cận hơn là truyện kể, các quan điểm khác về lịch sử, khoa học, toán học, nghệ thuật, giáo dục thể chất và các lĩnh vực khác. Dạng truyện kể có thể hỗ trợ cho việc đọc hiểu nội dung. Cuối cùng, văn học thiếu niên hiện nay là một thể loại năng động và mở rộng. Với các chủ đề và vấn đề đương đại, văn học dành cho thiếu niên có thể thu hút nhiều lợi ích, khả năng và năng lượng khổng lồ từ phía độc giả vị thành niên.

Độc giả thiếu niên và văn học thiếu niên

Một số người có khuynh hướng xem độc giả vị thành niên và trẻ vị thành niên là một nhóm gặp rắc rối nghiêm trọng. Chúng tôi từng cảnh báo rằng các khái quát thiếu cân nhắc giống như vậy thường bỏ lỡ nhiều điểm khi các cá nhân vị thành niên được hiểu là một nhóm dân số đa dạng với tài năng và sở thích độc đáo. Theo thống kê, số lượng và sự đa dạng của người nhập cư tuổi teen đang gia tăng (Campano & Ghiso, 2011). Thật vậy, việc mô tả dứt khoát một chàng thiếu niên người Mỹ nào đó ngày càng trở nên khó khăn. Chúng ta biết rằng dân số vị thành niên đang tăng và hầu hết là kết quả của sự nhập cư (Bean & Harper, 2011). Dự kiến ​​đến năm 2050, một nửa số thiếu niên sẽ không phải là người da trắng, có nghĩa họ sẽ là người Mỹ gốc Phi, gốc Tây Ban Nha, người Mỹ bản địa hoặc người châu Á. Trong thập kỷ qua, số lượng thiếu niên nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai (tiếng Anh) hoặc trình độ tiếng Anh hạn chế (LEP) tại các trường học ở Mỹ đã có sự gia tăng mạnh mẽ. Sự đa dạng và dễ quan sát của liên kết tôn giáo trong thiếu niên ngày càng tăng. Nghèo đói và vô gia cư là một vấn đề nghiêm trọng đối với ít nhất 15% gia đình thiếu niên. Nói chung, chúng ta biết rằng cuộc sống của thiếu niên tùy thuộc vào chủng tộc, địa vị xã hội và kinh tế và hoàn cảnh sống .

Có một số thống kê cần được các nhà giáo dục quan tâm:

  • Hơn 3.000 học sinh cấp ba bỏ học mỗi ngày tại Hoa Kỳ (Biancarosa & Snow, 2004).
  • 68% học sinh lớp 9 sẽ tiếp tục học hết trung học.
  • Đánh giá tiến bộ giáo dục quốc gia (NAEP) cho thấy có nhiều học sinh cấp hai đang có năng lực đọc dưới mức yêu cầu. Và một phần tư của học sinh lớp 8 và 12 hầu như không thể đọc.
  • Báo cáo trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia (NCES) cho thấy có khoảng cách về thành tích đọc liên tục và đọc hiểu nghĩa giữa học sinh da màu/ Tây Ban Nha và da trắng.
  • Số học sinh thiếu niên ở mức LEP đã lên gia tăng 56% (Batalova, Fix, & Murray, 2007).
  • Năm 2005, chỉ có 51% học sinh trung học được chuẩn bị cho việc đọc ở trình độ đại học (ACT, 2006).

Văn học thiếu niên đương đại không thể giải quyết tất cả các vấn đề nổi bật trong những bức tranh có quy mô lớn về thành tích học tập của thiếu niên nêu trên. Nhưng chúng tôi tin rằng các chủ đề và chủ đề hiện đại, có liên quan, có hứng thú, có phạm vi rộng, cùng với khả năng tiếp cận và khả năng đáp ứng của chương trình, đảm bảo rằng văn học dành cho thiếu niên có thể giúp hỗ trợ cải thiện việc dạy Văn cho HS.

Văn học thiếu niên

Kể từ khi ra đời vào những năm 1960 với một số ít tác giả, cho đến nay, văn học thiếu niên đã làm số lượng sách dành cho thiếu niên tăng vọt. Khoảng 500 tựa sách mới được xuất bản mỗi năm dành cho thiếu niên (Nilsen & Donelson, 2008). Các chủ đề được nghiên cứu trong văn học dành cho thiếu niên trình bày sự giải thích nhẹ nhàng về cuộc sống ở trường như Teen Angst? Naaah …(Vizzini, 2000) để thuyết phục nhân vật tuổi teen nỗ lực nhằm thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn như của Raspberry trong tiểu thuyết thiếu niên Money Hungry (Flake, 2001) và phần tiếp theo của nó, Begging for Change (Flake, 2004). Trong Money Hungry, Raspberry Hill, một học sinh cấp hai, luôn lo lắng về việc rơi vào tình trạng vô gia cư:

  • Momma và tôi không bao giờ sống dưới cầu. Nhưng khi mọi thứ trở nên tồi tệ, thực sự tồi tệ, một vài năm trước, chúng tôi đã sống ở một bãi rác cách đó không xa. Chúng tôi ngủ trong một chiếc xe tải cũ kỹ đang nằm trên đường ray. (trang 22)

Cuốn tiểu thuyết này và một số cuốn khác đã ghi chép lại các vấn đề về chủng tộc, giai cấp, giới tính và các chủ đề đương đại. Đặc biệt, qua các điều kiện ăn khớp nhau được xử lý trong tiểu thuyết Money Hungry về địa phương và đời thực, tính hư cấu đóng vai trò là bàn đạp để giải thích cho các ý tưởng về những thay đổi mang tính hệ thống để cải thiện xã hội.

Cuốn tiểu thuyết khác như Code Orange (Cooney, 2005) đề cập đến những sự kiện thảm khốc chẳng hạn như một loại virus chết người lây lan khắp thành phố New York. Trong tác phẩm này, Mitty Blake, nhân vật chính, được yêu cầu viết một bài nghiên cứu cho lớp Sinh học về các bệnh truyền nhiễm. Anh chọn chủ đề về virus và tình cờ tìm thấy cuốn sách của một bác sĩ già có chứa virus năm 1902 mà anh ta vô tình hít phải. Tiểu thuyết có nền tảng khoa học như Code Orange có thể được đọc và thảo luận trong lớp và liên hệ đến các chương trình truyền hình hiện thời như CSI và Criminal Minds, cũng như nhiều bộ phim liên quan đến virus (ví dụ, Outbreak và Andromeda Strain, và một số phim khác).

Những người có lập trường phê phán đối với tiểu thuyết, các chương trình truyền hình và phim có liên quan đến một tác phẩm như Code Orange có đủ cơ hội để kiểm tra tính hợp lý của nó qua sự thành công trong nghề nghiệp của một số người. Trong cuốn tiểu thuyết, Mitty Blake sống trong một tòa nhà cao cấp ở Manhattan và học ở một trường tư thục dành cho thanh niên học đại học. Vì vậy, trong ánh sáng của cuốn tiểu thuyết, HS có thể đặt câu hỏi cơn bản như ai sẽ làm khoa học? Cuốn tiểu thuyết này và những cuốn khác được tóm tắt ngắn gọn trong chương mở đầu sẽ được xử lý chi tiết hơn trong cuốn sách cùng với các hình thức tiếp cận thảo luận khác nhau.

Văn học thiếu niên đã giải quyết các đề tài và chủ đề khó khăn, bao gồm chiến tranh, mất mát, di dời, đa dạng ngôn ngữ và văn hóa, tình dục, công bằng xã hội, tù đày và lạm dụng. Ví dụ, tiểu thuyết gần đây Monster của Walter Dean Myers miêu tả việc giam giữ thiếu niên (Lockdown, 2010) và nghiện ma túy (Dopesick, 2009). Những chủ đề và nhân vật kiểu vậy thống nhất mô tả cụ thể về thiếu niên thành thị người Mỹ gốc Phi, có khả năng được giải cấu trúc từ một lập trường quan trọng. Nếu chúng ta xem thiếu niên là những cá nhân rất đa dạng chứ không phải là một nhóm đồng nhất, thì trong tiểu thuyết có thiếu niên người Mỹ gốc Phi đi học đại học và có việc làm đã đưa ra một phản biện lại các giải thích rập khuôn. Ví dụ, cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu niên của Myers (2003), The Beast, kể về cuộc hành trình của nhân vật chính Anthony, Spoon Spoon Witherspoon rời khỏi cộng đồng thân thiết đến một trường dự bị đại học trong khi bạn gái Gabi vẫn ở trong khu phố, vật lộn với chứng nghiện ma túy. Khi chúng tôi khám phá các tiêu chí để lựa chọn văn học thiếu niên chất lượng cao, thì cách mà thiếu niên được miêu tả sẽ là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển việc đọc và giải thích các tác phẩm này của học sinh.

Một số tiểu thuyết thiếu niên đương đại kết hợp hài hước và bi kịch để đối phó với căng thẳng sau tuổi vị thành niên. Ví dụ, nhân vật chính Melinda Sordino trong tác phẩm được nhiều người biết đến Peak (Anderson, 1999) đang đối phó với hậu quả của vụ một chàng trai trung học cưỡng hiếp cô trong một bữa tiệc. Trong suốt cuốn sách, Melinda giữ một giọng điệu mỉa mai, giải mã sự vô lý ở thái độ bên ngoài của các bạn học dưới sự ảnh hưởng gay gắt của vụ cưỡng hiếp.

  • Giáo viên tiếng Tây Ban Nha của tôi sẽ cố gắng vượt qua cả năm mà không nói tiếng Anh với lớp. Điều này vừa thú vị vừa có ích, giúp bạn dễ dàng bỏ qua cô ấy hơn. Cô giao tiếp thông qua những cử chỉ cường điệu và diễn kịch. Nó giống như tham gia một lớp học trong trò chơi đố chữ. (trang 13)

Quan điểm và tiếng nói của người trong cuộc trong các tiểu thuyết dành cho thiếu niên như Speak và gần đây hơn là Cô gái mùa đông (Anderson, 2009), gặp rắc rối với những quan điểm đơn giản về các sự kiện. Ví dụ như tiểu thuyết lịch sử  Geronimo (Bruchac, 2006) đã thay đổi cách miêu tả và giải thích các chiến binh Apache dựa trên hư cấu cũ từ những năm 1920 và các văn bản lịch sử. Nếu được nghe cháu trai nuôi của Geronimo kể lại vào những ngày cuối cùng của ông, khi được đưa từ ngôi nhà trên núi lên một chuyến tàu chở tù quân sự để giam cầm những người gây tội ác chiến tranh, người đọc sẽ trải nghiệm mối liên hệ sâu sắc với tự nhiên và tin vào tầm quan trọng của sự thật.

Hình 3. Văn học thiếu niên đương đại có thể được kết hợp với kinh điển.

Hộp văn bản: Phản ánh và thảo luận chuyên môn 
ReadWriteThink là một dự án trực tuyến được Hội đồng Giáo viên Tiếng Anh Quốc gia và Hiệp hội Đọc Quốc tế đồng tài trợ. Trang web này cung cấp một lượng lớn các kế hoạch bài học được làm cẩn thận bao gồm văn học dành cho thiếu niên và các chủ đề khác. Trang web có thể dễ dàng tìm kiếm và dễ dàng thấy các liên kết đến các bài báo, danh sách các mục tiêu của sinh viên và các kế hoạch giảng dạy được liên kết trực tiếp với các tiêu chuẩn chính. Trong hoạt động này, bạn có cơ hội kiểm tra một kế hoạch bài học cụ thể cho cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu niên có hứng thú cao như The Bully (Langan, 2007) được Kathleen Benson Quinn phát triển năm 2009. 
1. ReadWriteThink: Chuyển đến URL cho kế hoạch bài học về cuốn tiểu thuyết này ( www.readwritethink.org/lessons/lesson_view.asp?id=390 ). 
2. Kiểm tra kế hoạch bài học và các liên kết liên quan của nó, bao gồm cả bản tóm tắt của The Bully. 
3. Thảo luận về cách bạn sẽ sử dụng tài nguyên giảng dạy này với một giáo viên hoặc thành viên khác trong lớp theo kiểu Think-Pair-Share.
Theo truyền thống dành cho độc giả trong độ tuổi từ 12 đến 18 (Latcoat & Drury, 2009), văn học thiếu niên đã phát triển qua nhiều năm và mang các đặc điểm hậu hiện đại mà một tiểu thuyết hoặc tác phẩm có thể chứa đựng các yếu tố của một vở kịch, nhật ký, thơ, hình ảnh, và phương tiện truyền thông khác. Ranh giới của những gì cấu thành nên “văn bản” trở nên mờ nhạt. Giống như độc giả trẻ tuổi, văn học thiếu niên đang phát triển mạnh mẽ bởi vì tính năng động và thú vị. Học sinh có thể đọc đơn giản với góc nhìn chủ đề của tác phẩm, mà vẫn có thể làm sáng tỏ các khái niệm và sự kiện trong lĩnh vực lịch sử, toán học, khoa học, tiếng Anh và các lĩnh vực khác. Ngoài ra, kết hợp với các văn bản cổ điển ngay cả như Shakespeare, văn học thiếu niên có thể tạo tcầu nối mạnh mẽ để HS đọc và đánh giá cao các chủ đề song song trong kinh điển kết hợp với văn học đương đại. Các tài nguyên có sẵn để hỗ trợ bài học và phát triển chuyên môn trong trong các lớp dạy tiếng Anh chưa bao giờ tốt hơn. Trong Hoạt động 1.2, GV có thể khám phá một trong nhiều tài nguyên có sẵn giúp lập kế hoạch cho các bài học văn học dành cho thiếu niên có thể quản lý được.

Hoạt động này báo trước nhiều tài nguyên, đa số là trực tuyến, có thể hỗ trợ GV giảng dạy văn học thiếu niên. Việc lập kế hoạch giảng dạy cũng được hiểu là suy nghĩ về nhiều dạng văn bản bao gồm phim, tập tin âm thanh, truyền hình và các tài nguyên dựa trên phương tiện truyền thông khác.

Dạy học với văn học thiếu niên

Do văn học dành cho thiếu niên đã phát triển thành một thể loại mạnh mẽ thu hút nhiều trải nghiệm của con người nên nó cho phép HS đọc, thảo luận, tích hợp với văn học cổ điển (Probst, 2004) và phát triển liên văn bản: thông qua các kết nối với phim, truyền hình và các dạng văn bản khác (Hobbs, 2007). Ví dụ, cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu niên được lưu hành rộng rãi Holes (Sachar, 1998) có phiên bản phim cũng nổi tiếng không kém. Cuốn tiểu thuyết Hoot (Hiaasen, 2002) của Carl Hiaasen, lấy bối cảnh ở Florida, cũng có các nhân vật học sinh và một bí ẩn sinh thái. Giống như Holes, Hoot cũng có phiên bản điện ảnh từ tiểu thuyết. Bộ truyện Harry Potter được nhiều người hâm mộ đọc cả sách và đổ xô đến các phiên bản phim. Người ta thấy có thể đan xen các bộ phim và văn học cổ điển một cách sáng tạo. Ví dụ, là một giáo viên tiếng Anh ở California, Ernest Morrell (2008) đã kết hợp các tập phim cũ của Bố già với văn học cổ điển như Odyssey. Ngoài ra, với cơ hội luyện viết một cách phản xạ, đọc văn học dành cho thiếu niên thường phân tích các phản hồi kịch tính, sáng tạo, thiết kế và trình bày đa phương tiện dưới góc độ thẩm mĩ có thể dẫn đến kiểu đọc gần gũi cần thiết cho nhiều dạng bài đọc khác trong tương lai (Sumara, 2002). Trong một nhận xét giải thích lý do tại sao đọc văn học trong trường học vẫn còn vấn đề, Dennis Sumara (2000) nói:

Tôi đã nghĩ đến kinh nghiệm phát triển mối quan hệ sâu sắc với một văn bản văn học như là một thực tiễn trọng tâm, và duy trì chú ý, năng lượng và sự quan tâm. (trang 150)

Mặc dù cách đọc này không thể thiếu trong việc hiểu văn học nói chung và văn học dành cho thiếu niên được giới thiệu trong cuốn sách này nhưng điều quan trọng cần lưu ý là không có gì sai khi cuộn tròn bất kỳ cuốn sách hay nào và đọc nó vì niềm vui giải thoát tuyệt đối, hành trình gián tiếp với các nhân vật, và một thời gian nghỉ ngơi thoát khỏi nhịp độ nhanh của cuộc sống. Truyện tranh cũng có một vị trí trong tiếng Anh và các lớp học khác (Carr, Buchanan, Wentz, Weiss, & Brant 2001). Chẳng hạn, trong các nghiên cứu xã hội, sự giải thích hình ảnh nhân chứng của Dorinda Makanaonalani Nicholson (1998) về vụ đánh bom Trân Châu Cảng có tựa đề Pearl Harbor Child có thể được ghép với tiểu thuyết thiếu niên Eyes of the Emperor (Salisbury, 2005) và các tài liệu văn bản và phim liên quan để làm rõ sự khởi đầu của Thế chiến II. Sử dụng nhiều văn bản theo cách này đặc biệt hữu ích cho những người khó đọc/ phấn đấu đọc, và những người học tiếng Anh  (English language learners- ELLs).

Những nỗ lực để thu hút thiếu niên đọc thầm lặng kiên trì và các kết quả phát sinh phát biểu rằng đồng hành với việc giúp HS chìm đắm trong một câu chuyện quyến rũ là một cách để thực hiện mối liên hệ giữa việc đọc hiểu với văn học. Trong suốt cuốn sách, bạn sẽ tìm thấy các tiêu chí đánh giá nhằm lựa chọn nhiều thể loại văn học thiếu niên chất lượng cao (ví dụ: tiểu thuyết, văn xuôi phi hư cấu, tiểu thuyết lịch sử, tiểu sử, khoa học viễn tưởng và các thể loại khác). Với rất nhiều tài liệu dành cho thiếu niên hiện có thì việc phát triển một sự quan tâm đặc biệt đối với bộ sưu tập đang phát triển này thật là hữu ích.

Tất cả các chủ đề được đề cập trong chương này và các chủ đề khác sẽ được xem xét chi tiết hơn. Trong ba phần chính và các chương của văn bản tiếp theo, chúng tôi giới thiệu cho bạn các chủ đề sau.

Phần I: Cơ sở cho việc giảng dạy văn học thiếu niên, chương hiện tại,

Chương 1: Giới thiệu về cuộc sống vị thành niên, văn bản và giảng dạy tóm lược các chủ đề chính trong cuốn sách cùng với các tiểu thuyết dành cho thiếu niên được chọn và các bài đọc được đề nghị. Chương 2: Bản chất và lịch sử của văn học thiếu niên theo dõi phong trào hướng tới chủ nghĩa hiện thực, và gần đây, bước ngoặt hậu hiện đại trong văn học thiếu niên. Chương 3: Giảng dạy văn học thiếu niên giới thiệu các hướng nghiên cứu văn học như di sản văn hóa, phản hồi của độc giả hoặc phản hồi cá nhân và phê bình văn hóa, cùng với hướng dẫn giảng dạy văn học cho thiếu niên qua việc lập kế hoạch bài học. Chương 4: Văn học thiếu niên và những người học ngoại lệ xem xét văn học dành cho thiếu niên bao gồm những người học tiếng Anh, những học sinh năng khiếu và tài năng, những hóc sinh học chậm, và học sinh khuyết tật. 

Phần II: Các thể loại văn học thiếu niên đã có và mới nổi bao gồm các hình thức văn học thiếu niên hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại, toàn cầu và đa văn hóa. Chương 5: Tiểu thuyết hiện thực, lãng mạn và trinh thám cung cấp một cái nhìn tổng quan, tiêu chí đánh giá và tài liệu dựa trên các thể loại phổ biến và được biên tập kĩ lưỡng. Chương 6: Khoa học viễn tưởng, giả tưởng và kinh dị xem xét các thể loại phổ biến với các tiêu chí để lựa chọn và đánh giá. Chương 7: Tiểu thuyết lịch sử xem xét các chủ đề chính làm rõ các sự kiện lịch sử (ví dụ: Trân Châu Cảng). Chương 8: Truyện ngắn, thơ và truyện cười nghiên cứu các bộ sưu tập có chất lượng thu hút thiếu niên trong thể loại này. Chương 9: Phi hư cấu, tiểu sử, thông tin và tự trợ giúp đánh giá mảng sách phổ biến này trong văn học thiếu niên. Chương 10: Truyện tranh, Manga, Tiểu thuyết đồ họa, Zines và Văn học (đô thị) giới thiệu nhiều thể loại tiên phong có sức hấp dẫn rộng rãi đối với thiếu niên. Chương 11: Các hình thức văn học thiếu niên hậu hiện đại xem xét các hình thức mới nổi của văn học thiếu niên mang đặc điểm hậu hiện đại (ví dụ, dịch chuyển phông chữ, thay đổi quan điểm, uốn cong thời gian, thể loại hỗn hợp và các loại khác), cũng như tiểu thuyết đồ họa và phương tiện truyền thông. Chương 12: Văn học toàn cầu và đa văn hóa cho thiếu niên giới thiệu bộ sách phong phú được đặt trong bối cảnh đa sắc tộc và quốc tế. Chương này nêu bật các quan niệm về bản thân và bản sắc, địa phương, quốc gia và toàn cầu. Mỗi chương trong Phần II bao gồm các ý tưởng sử dụng văn học dành cho thiếu niên trong lớp học.

Phần III: Các vấn đề quan trọng trong Văn học thiếu niên chiếm các chủ đề và tài nguyên bổ sung có liên quan trong lớp học thế kỷ 21. Chương 13: Sách cho bé trai/ Sách cho bé gái? Giới tính và tình dục trong Văn học thiếu niên giới thiệu lý thuyết về văn học giới tính, lãng mạn và kiểm duyệt dành thiếu niên: các vấn đề. Chương 14: Văn học thiếu niên và nội dung phê bình Văn học cho thấy cách tích hợp kiến ​​thức phê bình: thực hành với văn học thiếu niên từ các thể loại bao gồm chủ nghĩa hiện thực và văn học toàn cầu và đa văn hóa liên quan đến đời sống dân chủ. Chương 15: Kiểm duyệt cung cấp nhiều cách khác nhau để xoa dịu các vấn đề kiểm duyệt và đảm bảo các lựa chọn văn học dành cho thiếu niên đa dạng. Chương 16: Công nghệ và tương lai của văn học thiếu niên thảo luận về sách điện tử (sách điện tử), Internet, tin nhắn văn bản và các cách đọc và phản hồi đa phương thức khác trong mối quan hệ với văn học thiếu niên.

Các tính năng đặc biệt của quyển sách này

Mô hình phương pháp giảng dạy văn học trong toàn bộ quyển sách này bao gồm các phần: Câu hỏi thảo luận, Phản hồi của độc giảPhê bình văn học. Ngoài ra, người ta cũng xem xét các chế độ phản hồi nghệ thuật và đa phương tiện như:  vẽ, nhập vai, nghệ thuật, sản xuất video và tập tin âm thanh, viết wiki, đánh giá sách cho khán giả internet (ví dụ: Amazon.com), viết blog và các phương pháp khác. Trong các chương thể loại, chúng tôi xem xét cách các Tiêu chuẩn cốt lõi chung được hỗ trợ bằng cách dạy các thể loại cho thiếu niên. Ngoài ra, chúng tôi cung cấp các ví dụ về văn bản đa phương tiện minh họa các hoạt động giảng dạy đương đại với văn học dành cho thiếu niên. Chúng tôi cũng dẫn các ví dụ của thiếu niên và thực hành trong lớp như phần đầu của chương này để cho GV cảm nhận cụ thể về tính chất không thể thiếu của văn học thiếu niên trong lớp học. Tầm quan trọng của việc gom lịch sử văn hóa của bối cảnh xã hội trong một cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu niên trước khi đưa vào đọc và thảo luận cũng được xem xét và mô hình hóa. Ví dụ: nếu học sinh đọc một tác phẩm hư cấu về những người hầu Trung Quốc bị bẻ khóa xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa như trong tác phẩm Cổng Rồng của Laurence Yep (1993), điều quan trọng là phải tham gia vào Tìm kiếm Web (web quest): hoặc hoạt động xây dựng nền tảng đặt điều này Câu chuyện trong các sự kiện xã hội lớn hơn của thời đại.

Ngoài ra, chúng tôi giải quyết nhu cầu của người học tiếng Anh (ELLs) với các chiến lược giảng dạy khác nhau và văn học dành cho thiếu niên ở mức trung cấp. Mỗi chương bao gồm một danh sách các bài đọc, phương tiện và các hoạt động nhóm nhỏ. Cuối cùng, các liên kết bổ sung đến các tài nguyên hữu ích cho văn học thiếu niên năm ở trang web đi kèm với cuốn sách.

Tóm lược

Chương này đã giới thiệu ba khái niệm chính: (a) Điều gì được tính là văn bản trong lớp học ngày nay? (b) Ai là độc giả vị thành niên? và, (c) tiềm năng giảng dạy với văn học thiếu niên. Ngoài ra, chúng tôi còn giới thiệu một vài cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu niên, và đề nghị một số bài đọc.

Câu hỏi thảo luận

1. Tại sao nói rằng: điều quan trọng là thiếu niên đọc qua nhiều tài liệu dành cho thiếu niên vì niềm vui và thông tin về các vấn đề?

2. Theo kinh nghiệm của bạn, các tính năng của văn học thiếu niên kết hợp các công nghệ truyền thông trực tuyến là gì?

3. Cái gì cho thấy mối quan hệ giữa đa dạng sắc tộc, văn hóa với văn học thiếu niên sẵn có liên quan đến lợi ích của học sinh?

4. Làm thế nào tài nguyên lập kế hoạch bài học trực tuyến có thể giúp GV tạo ra các bài học văn học dành cho thiếu niên hấp dẫn?

Thuật ngữ quan trọng

Tiểu sử cơ thể 

Người học tiếng Anh (ELL) tr.13

Thể loại tr.4

Liên thông tr.12

Văn học mới tr.6

Thời báo mới tr.6

Những độc giả cần phấn đấu/ cố gắng 13

Chuyên đề 4

Tra cứu web 15

Văn học thiếu niên 3

Hoạt động nhóm nhỏ: Phát triển cơ sở dữ liệu về văn học thiếu niên

Để giới thiệu về văn học thiếu niên, hãy tìm một cuốn tiểu thuyết dành cho vị thành niên mà bạn đã đọc trong quá khứ và chia sẻ với một nhóm nhỏ. Cung cấp cho mỗi thành viên trong nhóm một bản tóm tắt bằng văn bản hoặc file điện tử của cuốn sách cùng với các chi tiết xuất bản và bất kỳ chiến lược sư phạm nào có vẻ phù hợp. Nếu bạn chưa có cơ sở dữ liệu khi làm như vậy, bạn sẽ bắt đầu  xây dựng cơ sở dữ liệu văn học sẽ được sử dụng trong giảng dạy của bạn hôm nay hoặc trong tương lai.

Bải đọc khuyến nghị

Harper, H. J., & Bean, T. W. (2006). “Thiên thần sa ngã: Tìm kiếm thanh thiếu niên và văn học vị thành niên trong một dự án đổi mới của công dân dân chủ”. Trong D. E. Alvermann, K. A. Hinchman, D. W. Moore, S. F. Phelps, & D. R. Waff (Eds.), Tái hiện các kiến ​​thức trong cuộc sống của thanh thiếu niên (tái bản lần thứ 2). Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum.

Hobbs, R. (2007). Đọc các phương tiện truyền thông: Kiến thức truyền thông trong tiếng Anh trung học. New York, NY: Nhà xuất bản Giáo viên.

Cuốn sách này cung cấp cho giáo viên cái nhìn cận cảnh về các lớp học ở trường trung học khi học sinh tham gia lớp học và áp dụng phân tích kiến ​​thức quan trọng vào các dạng văn bản truyền thông khác nhau bao gồm truyền thông văn hóa phổ biến, truyền hình và phim ảnh. Nó đặc biệt hữu ích trong nỗ lực liên kết các hình thức văn bản in và phương tiện truyền thông.

Lesko, N. (2001). Hành động tuổi của bạn? Một công trình văn hóa của tuổi mới lớn. New York, NY: Routledge.

Đây là một trong những tường thuật toàn diện và chu đáo nhất về cách thanh thiếu niên đã được xây dựng tại các điểm khác nhau trong lịch sử. Ngoài ra, Lesko cung cấp các quan điểm thay thế của tuổi thiếu niên như một thời gian phức tạp kéo dài các yếu tố xen kẽ của thời thơ ấu, tuổi trẻ và tuổi trưởng thành.

Luke, A., & Elkins, J. (1998). Thiếu niên biết chữ cho thời gian mới. Tạp chí Văn học vị thành niên & người lớn, số 48, tr. 525 -530.

Matthews, J. (2006, ngày 26 tháng 6). Nghiên cứu bác bỏ báo động về thành tích của con trai. Tạp chí Las Vegas, 1A, 4A.

Quinn, K. B. (2009). Một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn giúp độc giả gặp khó khăn đối đầu với bắt nạt trong trường học. Đọc kế hoạch bài học viết. Lấy từ http://www.readwritethink.org/lessons/lesson_view.asp?id=390

Trang web lập kế hoạch bài học được đồng tài trợ này cung cấp các tài nguyên giảng dạy tuyệt vời bao gồm các kế hoạch bài học dựa trên tiểu thuyết dành cho người lớn trẻ, tiểu sử, thơ và truyện ngắn. Kế hoạch bài học cụ thể này hướng dẫn giáo viên thông qua các mục tiêu chính, kế hoạch giảng dạy và chiến lược, đánh giá và các tiêu chuẩn có liên quan. Một bản tóm tắt chi tiết của tiểu thuyết mục tiêu The Bully (Langan, 2007) được liệt kê.

Smith, M. W., & Wilhelm, J. D. (2002). Đọc sách không sửa chữa không có tiếng của Chevy: Biết chữ trong cuộc sống của những chàng trai trẻ.

Portsmouth, NH: Heinemann. Sumara, D. J. (2002). Tại sao đọc văn học trong trường vẫn còn vấn đề: Trí tưởng tượng, giải thích, cái nhìn sâu sắc. Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum.

Dennis Sumara thảo luận về việc giảng dạy văn học của riêng mình và đưa ra một lập luận mạnh mẽ cho vai trò của văn học trong việc phát triển cách tiếp cận đọc và diễn giải chặt chẽ của học sinh qua các hình thức văn bản khác nhau. Do đó, Sumara nhận thấy vai trò bền vững của văn học có giá trị ngay cả khi đọc sách dựa trên Internet ngày càng tăng. Đọc gần và phê bình bất kỳ văn bản là một kết quả học tập mong muốn cho sinh viên.

Văn học thiếu niên được đề nghị nổi bật trong chương này

Anderson, L. H. (1999). Nói. New York, NY:  PenGuin Putnam.

Cuốn tiểu thuyết đoạt giải thưởng của Laurie Halse Anderson tập trung vào giọng nói của người đầu tiên của Melinda Sordino. Melinda bị bạn bè xa lánh sau khi làm náo loạn bữa tiệc cuối hè. Sự hài hước châm biếm của cô ấy bao trùm lên sự tổn thương thực sự của bữa tiệc mà cuối cùng cô phải đối mặt.

Anderson, L. H. (2009). Những cô gái mùa đông. New York, NY: Viking.

Cuốn tiểu thuyết này chiếm một cuộc đấu tranh của một thiếu nữ với chứng chán ăn. Cách tiếp cận hỗn loạn của Lia trong cuộc sống của cô là kiểm soát thông qua một điều cô có thể quản lý giảm cân, quá nhiều cân nặng.

Bruchac, J. (2006). Geronimo: Một cuốn tiểu thuyết. New York, NY: Scholastic.

Được viết từ quan điểm của cháu trai của Geronimo, lời kể của chiến binh Apache nổi tiếng của tác giả người Mỹ bản địa từng đoạt giải thưởng Joseph Bruchac cho thấy phần lớn ẩn giấu trong cuộc sống của Apache. Lấy từ ngôi nhà trên núi của họ khi các tù nhân đi về hướng đông trên một chuyến tàu, Geronimo phản ánh về mối liên hệ của Apache với thiên nhiên và các giá trị đặt niềm tin lên hàng đầu của nhân loại.

Cooney, C. B. (2005). Code orange (Mật mã màu cam). New York, NY:

Delacorte. Mitty Blake, một học sinh sinh học trung học có ác cảm với bất kỳ việc đọc nào nếu không có trên Internet, phải viết một bài báo về các bệnh truyền nhiễm. Cooney viết bằng giọng điệu gượng gạo, đưa người đọc vào một hành trình giống như CSI để hiểu thêm về virus. Cuốn sách là một cuốn sách hay nhưng cũng mạnh về thông tin về virus.

Flake, S. G. (2001). Tiền đói. New York, NY: Hyperion.

Sharon Flake đã giành được giải thưởng Coretta Scott King-John Steptoe cho cuốn tiểu thuyết dành cho người lớn trẻ tuổi này với nhân vật chính Raspberry Hill 13 tuổi. Raspberry sống với mẹ và cô lo sợ bị đuổi khỏi căn hộ nhỏ của họ đến một cuộc sống trên đường phố. Do đó, cô bán các mặt hàng ở trường và có tiền để tránh các vấn đề nhưng rồi họ cũng tìm thấy cô.

Flake, S. G. (2004). Bắt đầu thay đổi. New York, NY: Hyperion.

Phần tiếp theo của Money Hungry thấy Raspberry đang cố gắng đối phó với người cha thường xuyên vắng mặt và nghiện ma túy. Giống như Money Hungry, bài này được viết ở cấp trung học mà độc giả có thể phân tích.

Hiaasen, C. (2002). Hoot. New York, NY: Knopf.

Trong nỗ lực cứu những con cú đang bị đe dọa tuyệt chủng ở Florida, nhân vật chính và những người bạn cấp hai của anh đã phá hoại một trang web cho một ngôi nhà Pancake trong tương lai. Sự hài hước lưỡi nổi tiếng của Carl Hiassen được thể hiện trong cuốn tiểu thuyết dành cho người lớn trẻ tuổi.

Langan, P. (2007). Kẻ bắt nạt. New York, NY: Dòng sản phẩm cao cấp Scholastic Bluford

Nhân vật chính, học sinh lớp 9 Darrell Mercer di chuyển cùng mẹ đến California từ Bờ Đông. Darrell rất gầy và thấp so với tuổi. Anh ta bị Tyray và bạn bè tống tiền với giá 10 đô la một tuần. Darrell sợ hãi và bắt đầu trả Tyray hàng tuần, nhưng anh cũng tham gia vào đội đấu vật ở trường trung học để xây dựng cơ bắp và sự tự tin để tự đứng lên. Là một cuốn tiểu thuyết có độ từ vựng cao, ít quan tâm, The Bully có thể đọc được, chuyển động nhanh và lôi cuốn những độc giả vị thành niên đang gặp khó khăn.

Myers, W. D. (1999). Quái vật. New York, NY: HarperCollins.

Cuốn tiểu thuyết này có sự thay đổi về phông chữ, thời gian và giọng nói khi Steve Harmon 16 tuổi đối phó với việc bị giam giữ trong nhà tù quận sau khi bị liên lụy trong một vụ cướp cửa hàng tiện lợi. Cuốn tiểu thuyết cho phép xem xét các vấn đề đương đại xung quanh thanh thiếu niên rập khuôn theo phân biệt chủng tộc và giai cấp, cũng như kiểm tra các đặc điểm xây dựng và dựa trên phương tiện truyền thông (ảnh minh họa của Steve do Christopher Myers tạo ra).

Myers, W. D. (2003). Quái vật. New York, NY: Scholastic.

Lấy bối cảnh ở Harlem, cuốn tiểu thuyết dành cho người lớn trẻ tuổi đầy sức mạnh này đối lập với quỹ đạo cuộc sống của hai thiếu niên, sinh viên người Mỹ gốc Phi, đại học, Anthony Witherspoon, và bạn gái nghiện ma túy của ông Gabi. Nghèo đói, cộng đồng và trách nhiệm gia đình nổi bật trong cuốn tiểu thuyết, và nó yêu cầu cần thảo luận về các vấn đề giới và quyền lực.

Myers, W. D. (2009). Dopesick. New York, NY: HarperTeen/ Amistad.

Chứa các yếu tố hậu hiện đại siêu thực, cuốn tiểu thuyết này theo dõi hành trình của Lil J. Skin thông qua việc sử dụng ma túy và cơ hội thứ hai. Như thường lệ với các nhân vật của Myers, Lil J. phải chạm đáy trước khi có được cuộc sống tốt hơn.

Myers, W. D. (2010). Khóa máy. New York, NY: HarperCollins/ Amistad.

Nhân vật chính Reese muốn sớm thoát khỏi nhà tù vị thành niên bằng cách làm việc trong một ngôi nhà của người lớn tuổi. Xung đột nảy sinh với một trong những cư dân và Reese phải làm việc chăm chỉ để chuộc lại chính mình và bỏ lại thế giới tội phạm phía sau. Hy vọng hiện ra lớn trong tiểu thuyết của Walter Dean Myers, và tác phẩm này đưa độc giả tuổi teen vào những suy nghĩ và hành động của Reese.

Sachar, L. (1998). Cái hố. New York, NY: Lá nguyệt quế Dell.

Đây là câu chuyện nổi tiếng về sự lưu vong của Stanley Yelnat đến Camp Green Lake, nơi anh và các cậu bé khác phải đào một bộ sưu tập vô tận các lỗ trên sa mạc, không có lý do rõ ràng. Quản ngục trung tâm giam giữ có một chương trình nghị sự khác, và Holes cung cấp cho độc giả một bí ẩn hấp dẫn. Bộ phim hiện có sẵn tăng cường đưa cuốn tiểu thuyết này vào lớp học.

Salisbury, G. (2005). Đôi mắt của hoàng đế. New York, NY: Sách cừu của Wendy.

Eddy Okubo, nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết này, tham gia phục vụ đất nước của mình trong Quân đội Hoa Kỳ. Cuốn sách ghi lại những trải nghiệm của Eddie trên đảo Cat ở miền Nam nơi anh và những người lính Hawaii của mình được gửi đến để làm mồi cho chó cho một quân đoàn chó có kế hoạch đuổi theo lính Nhật. Cuốn sách đề cập đến phân biệt chủng tộc và bất công xã hội.

Vizzini, N. (2000). Thiếu niên thiên thần? Naaah lệch: Một cuốn tự truyện. Minneapolis, MN: Xuất bản tinh thần miễn phí.

Nhà văn trẻ Ned Vizzini ghi lại những trải nghiệm thời trung học của mình với sự hài hước trong lời nói. Các chủ đề của anh bao gồm từ thử nghiệm cổ phần cao tại Trường trung học Stuyvesant ở New York, đến các trò chơi điện tử, các cô gái, và hàng loạt khái niệm lớn đánh anh từ mọi phía trong các lớp học cấp ba của anh.

Yep, L. (1993). Cổng rồng. New York, NY: HarperCollins.

Cuốn tiểu thuyết này ghi lại những trải nghiệm của công nhân Trung Quốc khi xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa trong điều kiện tâm lý và thể chất thô sơ ở vùng núi Colorado

Phim đề xuất

Một số lượng lớn các bộ phim tuổi teen có thể được tìm thấy tại trang Wikipedia sau: http://en.wikipedia.org/wiki/Carget:Teen_Films  Mỗi danh sách phim (ví dụ: Tâm trí nguy hiểm) bao gồm tóm tắt, diễn viên, nhạc phim và thông tin hữu ích khác nếu bạn đang lên kế hoạch cho các bài học trong đó phim tuổi teen có thể được đọc cùng với một cuốn tiểu thuyết dành cho người lớn trẻ tuổi (ví dụ, Holes). Ngoài ra, những bộ phim này mô tả cuộc sống của thanh thiếu niên từ nhiều quan điểm khác nhau, bao gồm quan điểm hẹp hòi, rập khuôn của thanh thiếu niên như những bó hoocmon hoành hành cho đến những vai diễn có sắc thái tinh tế hơn.

Trang web được đề xuất

Quinn, K. B. (2009). Một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn giúp độc giả gặp khó khăn đối đầu với bắt nạt trong trường học. Đọc kế hoạch bài học viết. Lấy từ http://www.readwritethink.org/lessons/lesson_view.asp?id=390

Tài liệu tham khảo

ACT. (2006). Đọc giữa các dòng: Những gì ACT tiết lộ về sự sẵn sàng của trường đại học trong việc đọc. Thành phố Iowa, IA:

ACT. Học sinh vị thành niên: Một tuyên bố vị trí của Hiệp hội Đọc quốc tế. (2012). Lấy từ http://www.reading.org/Lologists/Resource/ps1079_adolescentlit eracy_Vv2012.pdf

Batalova, J., Fix, M., & Murray, J. (2007). Các biện pháp thay đổi: Nhân khẩu học và xóa mù chữ của người học tiếng Anh vị thành niên. New York, NY: Tập đoàn Carnegie.

Bean, T. W. (2010). Học tập đa phương thức cho thanh thiếu niên thế kỷ 21. Huntington Beach, CA: Giáo dục Shell.

Bean, T. W., & Harper, H. (2011). Bối cảnh học tiếng Anh nghệ thuật: Những năm học cấp ba. Trong D. Lapp & D. Fisher (Eds.), Sổ tay nghiên cứu về giảng dạy nghệ thuật ngôn ngữ tiếng Anh (tái bản lần thứ 3, trang 60 -68). New York, NY: Routledge.

Bean, T. W., Readence, J. E., & Baldwin, R. S. (2012). Kiến thức khu vực nội dung: Một cách tiếp cận tích hợp (lần thứ 10). Dubuque, IA: Kendall / Hunt.

Biancarosa, G., & Tuyết, C. (2004). Đọc tiếp: Tầm nhìn hành động và nghiên cứu về xóa mù chữ ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông: Báo cáo cho Tập đoàn Carnegie của New York. Washington, DC: Liên minh giáo dục xuất sắc.

Campano, G., & Ghiso, M. P. (2011). Sinh viên nhập cư như trí thức quốc tế. Trong S. A. Wolf, K. Coats, P. Enciso, & C. A. Jenkins (Eds.), Sổ tay nghiên cứu về văn học thiếu niên và thiếu niên (trang 164 -176). New York, NY: Routledge.

Carr, K. S., Buchanan, D. L., Wentz, J. B., Weiss, M. L., & Brant, K. J. (2001). Không chỉ dành cho các lớp tiểu học: Một thư mục sách ảnh cho giáo viên nội dung thứ cấp. Tạp chí Văn học vị thành niên & người lớn, 45, 146 -153.

Buchanan, S. G. (1904). Vị thành niên: Tâm lý học và mối quan hệ của nó với sinh lý học, nhân chủng học, xã hội học, tình dục, tội phạm, tôn giáo và giáo dục (Vols. I & II). New York, NY: D. Appleton.

Hobbs, R. (2007). Đọc các phương tiện truyền thông: Kiến thức truyền thông trong tiếng Anh trung học. New York, NY: Nhà xuất bản Giáo viên.

Kist, W. (2010). Lớp học kết nối xã hội: Dạy học trong thời đại truyền thông mới. Thousand Oaks, CA: Corwin.

Knobel, M., & Lankshear, C. (2008). Remix: Nghệ thuật và thủ công của sự lai tạo vô tận. Tạp chí Văn học vị thành niên & người lớn, 52 (1), 22 -33.

Latcoat, K. H., & Drury, J. (2009). Phương pháp tiếp cận quan trọng đối với văn học người lớn trẻ tuổi. New York, NY: Neal-Schuman.

Lesko, N. (2001). Hành động tuổi của bạn? Một công trình văn hóa của tuổi mới lớn. New York, NY: Routledge.

Moore, D. W., Bean, T. W., Birdyshaw, D., & Rycik, J. A. (1999). Thiếu niên biết chữ: Một tuyên bố vị trí. Tạp chí Văn học vị thành niên & người lớn, 43, 97-112. Cũng có sẵn từ http://explorers.tsuniv.edu/ira-alc  

Morrell, E. (2008). Giới trẻ biết đọc biết viết và giới trẻ thành thị: Hướng tới một lý thuyết về Praxis. Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum.

Đánh giá quốc gia về tiến bộ giáo dục (NAEP) (2012). Có sẵn từ Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia: http://nces.ed.gov/nationsreportcard/

Trung tâm Hiệp hội Thống đốc Quốc gia về Thực hành Tốt nhất (2012). Tiêu chuẩn cốt lõi. Có sẵn từ http: http://www.corestandards.org/

Nicholson, D. M. (1998). Trân Châu cảng con. Honolulu, HI: Hiệp hội Bảo tàng Tưởng niệm Arizona.

Nilsen, A. P., & Donelson, K. L. (2008). Văn học cho thanh niên ngày nay (tái bản lần thứ 8). Boston, MA: Allyn & Bacon.

Đầu dò, R. E. (2004). Trả lời & phân tích: Dạy học văn ở trường cấp hai (tái bản lần 2). Portsmouth, NH: Heinemann.

Quinn, K. B. (2009). Một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn giúp độc giả gặp khó khăn đối đầu với bắt nạt trong trường học. Đọc kế hoạch bài học viết. Lấy từ http://www.readwritethink.org/lessons/lesson_view.asp?id=390

Smagorinsky, P., & O’Donnell-Allen, C. (1998). Đọc như là hành động trung gian và trung gian: Sáng tác ý nghĩa cho văn học thông qua các văn bản diễn giải đa phương tiện. Đọc nghiên cứu hàng quý, 33, 198-226.

Sturtevant, E. G., Boyd, F. B., Brozo, W. G., Hinchman, K. A., Moore, D. W., & Alvermann, D. E. (2006). Nguyên tắc thực hành cho trẻ vị thành niên biết chữ: Một khung hướng dẫn và chính sách.

Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum. Sumara, D. J. (2002). Tại sao đọc văn học trong trường vẫn còn vấn đề: Trí tưởng tượng, giải thích, cái nhìn sâu sắc. Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum.

Điểm tin văn học 20-01-2018

_DSC5236

 

Bài điểm sách: Văn hóa dân gian trong bối cảnh-Tiểu luận của Dan Ben-Amos

BEN-AMOS, DAN. Văn hóa dân gian trong bối cảnh. Tiểu luận. New Delhi: Nhà xuất bản Nam Á Pvt. Ltd, 1982. viii + 187 tr. Bìa cứng, USS16.00 (được Viện Folklore ở Mỹ và Canada phân phối, P.0. Box 655, Cupertino, CA 95.015)

cropped-img_1883.jpg

Mới gần đây thôi,  Dan Ben-Amos vẫn còn được Richard Dorson gọi là một “Young Turk”. Mặc dù, như Dorson tự giãi bày, nhóm có thể đã không có cả cốt truyện cũng không nổi dậy trong tâm trí (p. 20), nhưng nhóm Young Turk đã để lại dấu ấn của mình trong lĩnh vực văn hóa dân gian, và Ben-Amos đã tiến triển đến mức chúng ta nhìn thấy bài viết của ông được xuất bản trong các bộ sưu tập lớn. The Young Turk đã phát triển thành một trong những cái tên nổi tiếng nhất trong công tác này.

Công trình này là một bộ sưu tập ra mắt bởi nhiều bài tiểu luận rất khó để tìm thấy trong nguyên bản của nó; người ta có quyền nghi ngờ điều này là chuyện nhân đôi  bản in nhưng thực tế rõ ràng là nó đã được in và phát hành tại châu Á, nơi mà các tạp chí và số lượng mà họ lần đầu tiên xuất hiện đặc biệt khó khăn để có được. Cuốn sách chứa tổng số chín tiểu luận, tiểu luận cũ nhất là “Thể loại phân tích và thể loại tộc người” (pp. 38-64), được xuất bản lần đầu vào năm 1969. Tám bài còn lại được viết trong thập niên 1970. Mở đầu tuyển tập có một lời giới thiệu rất ngắn của chính Ben-Amos viết.

Cuốn sách được chia thành bốn phần, xử lí tương ứng với các vấn đề bối cảnh, thể loại Truyện hài hước Do Tháivăn hóa dân gian ở châu Phi (nơi mà tác giả đã thực hiện nghiên cứu thực địa). Mặc dù mỗi bài luận ban đầu là một mảnh riêng biệt và khác biệt, nhưng cách phân loại loại được thiết lập bởi tác giả làm giúp các phần kết nối lại với nhau như một cuốn sách, và người đọc cảm nhận được một sự liên tục vốn thường bị thiếu trong những công trình kiểu như vầy. Theo quan điểm của tôi, hai bài tiểu luận về thể loại có thể được thì tốt nhất nên bỏ qua, vì nó không có vẻ thêm gì vào tiến độ chung của cuốn sách và đặc biệt bài “Thể loại phân tíchh và thể loại tộc người” -là quá lý thuyết hàn lâm đến nỗi người đọc hầu như không thể hiểu được. Tuy nhiên Ben Amos nhìn thấy những hướng đi mới ấy bằng một ánh sáng khác, và lý do của ông đưa các tác phẩm ấy vào là đủ rõ ràng; ông tin rằng tri thức về thể loại, đặc biệt là của người đang kể chuyện là rất quan trọng trong việc tìm hiểu cách mà người kể chuyện trình bày câu chuyện của mình.

Ben Amos từ lâu đã là một trong những người chủ trương tiếp cận “lý thuyết giao tiếp” trong folklore, và các bài viết trong cuốn sách này xác định vị trí của ông một cách đáng ngưỡng mộ. Một trong những đóng góp lớn của Ben-Amos cho ngành khoa học này là sự nhấn mạnh rằng văn hóa dân gian là một quá trình hơn là một tập hợp của những văn bản, và ông nhắc nhở chúng ta (đặc biệt là trong hai bài tiểu luận đầu tiên) rằng để nghiên cứu chỉ một bài hát hay một câu chuyện mà chỉ thực hiện bằng cách không để ý gì đến cách thức mà câu chuyện ấy được chuyển tải, thì cái mà chúng ta nhận được chỉ là một bức tranh không hoàn chỉnh về “folklore”. Như ông chỉ ra một cách hợp lí rằng, folklore là những gì hơn cả một loạt các văn bản đang chờ đợi để được thu thập, và người ta phải có dịp ngạc nhiên nếu tự mình, với lòng nhiệt thành để thu thập mọi thứ, có thể không được loại bỏ đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực đời truyền thống sống theo kiểu coi nó là những hoá thạch.

Như vậy, người ta có thể mô tả Ben Amos là nhà folklore học đã phát hiện ra hướng nghiên cứu dân tộc kí (ethnography) trong folklore, vì chắc chắn không có gì trong công việc của Ben-Amos mà các nhà nhân chủng học phải cảm thấy ngạc nhiên (dù các nhà folklore học cảm thấy lạ lẫm khi được định hướng rõ ràng như vậy). Tuy nhiên, trớ trêu thay – và có phần thất vọng- không có bài tiểu luận nào thực sự trình bày một phân tích chi tiết về bối cảnh của một sự kiện folklore. Người ta bắt đầu tự hỏi nếu một nghiên cứu theo kiểu như vậy thực sự là có thể hay không. Giống như rất nhiều câu chuyện cười hay nhất, người ta phải “có mặt ở đó” để tạo các tác động đầy đủ về tầm quan trọng của bối cảnh để làm cho bản thân những người tham gia cảm thấy, và người ta phải “có mặt ở đó” như một thành viên của truyền thống, mà trong đó sự kiện xảy ra. Mặc dù Ben-Amos tin rằng kiến thức về bối cảnh và thể loại sẽ giúp người ngoài hiểu được một sự kiện văn hóa dân gian với tâm thế của một khán giả đầu tiên và sự tham gia là sự hiểu, nhưng các bài luận ngắn gọn lõ ràng không phải là nơi lý tưởng nhất để mang sự hiểu biết của ông đi vào cuộc sống

Có lẽ là vì lý do này mà Ben Amos, một người Israel, có minh chứng thuyết phục nhất là khi ông viết về một chủ đề mà ông không xem xét như một người ngoại cuộc, những câu chuyện hài hước của người Do Thái. Theo quan điểm cá nhân tôi xem xét thì các bài luận kích thích và quyết định nhất trong cuốn sách chính là “Chất thần thoại trong truyện cười Do Thái”, “Ben-Amos lấy những “kiến thức phổ quát” (bắt nguồn từ Freud) để “nhận diện một cách chất lượng về truyện hài hước Do Thái” chính là ở chỗ “bản tính tự chế giễu Do thái”, và đập vỡ nó ra từng mảnh trên một nền tảng của quan sát theo bối cảnh. Các bài luận đã chỉ ra một cách sáng rõ những nguy cơ của việc đánh giá văn hóa dân gian của người dân trên cơ sở các văn bản bị cô lập hơn chứ không phải  một cuộc khám phá tất cả bối cảnh của nền folklore.

Những ai còn nghĩ rằng để có folklore mà chỉ cần thu thập và phân loại những câu chuyện đáng kính từ quá khứ cổ xưa thì nên đọc những bài viết trong cuốn sách này. Thật không may phong cách văn xuôi của Ben Amos ‘có xu hướng đi theo lối phức tạp, và chỉ có những người khá chuyên môn mới có khả năng vận dụng để hiểu bản chất cốt lõi của nó. Và cuốn sách này là cũng khá kém sự tương thích khi đặt lại với nhau, nó không có tồn tại khả năng cho sự đọc chuyên sâu và đọc lại theo nghĩa nội dung xứng đáng để đọc (và thường có nhu cầu đọc). Mặc dù vậy, các biên tập là để được khen thưởng cho những nỗ lực của họ trong việc đưa những bài tiểu luận phổ biến rộng rãi  hơn.

Michael Kelsey

Đại học Nanzan, Nagoya

chuyện nhỏ trong bệnh viện

Bên cạnh giáo dục, y tế là một trong những ngành dịch vụ xã hội có nhiều điều cần phải thay đổi và nâng tầm. Thay đổi là vì trong thời gian qua, trong các bệnh viện vẫn còn tồn tại khá nhiều chuyện làm phiền lòng người bệnh và gây bức xúc trong dư luận. Nâng tầm là vì một bộ phận người làm nghề y vẫn còn tư tưởng ban phát và trục lợi trên sức khỏe bệnh nhân, gây ra những bất mãn trong lòng người dân về một nền y đức Việt bị vẩn đục. Để làm được hai việc lớn ấy, người ta thường tập trung thực hiện nhiều đề án với quy mô lớn và rộng; đông đảo và đa dạng; công sức và tiền của. Tuy nhiên, nhiều chuyện vẫn không thể giải quyết được. Để thay đổi hình ảnh của bệnh viện trong mắt người dân, chỉ cần những hành động vô cùng nhỏ mà trong tầm tay của các vị lãnh đạo cơ sở y tế. Chẳng hạn chuyện chiếc xe đẩy bệnh nhân.

Ai đã từng có người thân bị bệnh phải sử dụng chiếc xe đẩy bệnh nhân (nằm hay ngồi) của bệnh viện mới hiểu hết sự phiền phức và tác hại của nó gây ra. Không hiểu là người ta có định kì kiểm tra, sửa chữa hay không mà 10 chiếc như một, tất cả đều kêu răng rắc khi đểy bệnh nhân đi. Người bệnh cơ thể đã yếu, thính lực không tốt, thị lực không ổn, nằm lên chiếc xe đã cảm giác mệt mỏi lắm rồi. Vậy mà trên đường đi xuống nơi điều trị hoặc từ nơi điều trị lên phòng hồi sức cấp cứu đều phải chịu dằn xóc và tiếng kêu từ 4 bánh xe nghe thật khó chịu. Phòng hồi sức cấp cứu là nơi tập trung nhiều bệnh nặng, cần sự yên tĩnh và nhẹ nhàng thì những chiếc xe ấy cứ lao đi ầm ầm bất chấp sự nhói lòng của thân nhân. Gặp điều dưỡng đang lúc khó ở trong mình, thao tác không nhẹ nhàng, người bệnh thân tâm rã rời, người thân lòng đau như cắt.

Chuyện thay đổi và nâng tầm trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp như y tế, giáo dục cần lắm những đề án vĩ mô đế có tầm nhìn xa. Tuy nhiên, cái cốt lõi vẫn là những chuyện nhỏ hằng ngày ở những cơ sở chữa trị và nơi trường học. Nếu như bệnh viện có người thường xuyên chăm lo, tra nhớt, tra dầu vào các bánh xe. Miếng cao su nào hỏng thì tìm cách thay thế, thanh sắt nào rớt ra thì hàn lại; vừa tiết kiệm chi phí vừa tạo cảm giác êm ái cho người bệnh. Đội ngũ điều dưỡng, y tá cũng thấy được việc làm ấy mà tự ý thức nâng niu chiếc xe, vô tình nhẹ tay với người bệnh. Phiền muộn từ đó vơi đi, oán than từ lời người thân bệnh nhân từ đó dịu lại.

Cũng như giáo dục, y tế cần thay đổi những chuyện nhỏ, chuyện hằng ngày bên cạnh những chuyện vĩ mô.

Bài phát biểu hay tuyệt vời của Tướng Lưu Á Châu

Tác giả: Lưu Á Châu (theo FB Đức Bảo Phạm) .Thượng tướng Lưu Á Châu sinh năm 1952, là con trai cố Thiếu tướng Lưu Kiến Đức và là con rể của Chủ tịch nước Lý Tiên Niệm, vợ ông là Lý Tiểu Lâm hiện là…

Nguồn Bài phát biểu hay tuyệt vời của Tướng Lưu Á Châu

Không biết đưa vào thể loại nào

Tác giả: theo FB Lưu Trọng Văn . Gã nhớ lại có lần gs Tương Lai kể với gã sau cuộc gặp vào tháng 7.2014 của gs và một số trí thức tên tuổi với ông Ba khi gs nhắc đến hai câu nói nổi tiếng kia của ông Ba, gs đã nói thẳng với […]

via Chuyện lượm được ở đám giỗ ông Võ Văn Kiệt (phần hai) — Kim Dung/Kỳ Duyên